53. Chung Thất Chẩn Tế Sớ
Nguyên văn:
終七賑濟疏
伏以
勝會弘開、世尊出現、寒林旣設、滞魄來依、澡浴身根、承恩受戒、享酥酡之妙食、各飽饑虛、聽華嚴之秘文、早超覺地。拜疏爲
大南國...某寺奉
佛設供賑濟孤魂祈福事。今齋主...同齋眷等、顓爲本師和尚、樂徃淨邦、齋旬福事已周圓、啟建蒙山之法施、維日香燃五分、僧仗六和、仰干
大覺之尊、俯濟幽冥之路、普爲法界三十六部、河沙男女孤魂等衆。
言念、法界有情、大開津濟、眷彼幽魂、積刼孤露、久沉長夜、難得超昇、咸仗良因、幸蒙濟度。兹者道塲完滿、賑濟孤魂、謹具疏章、和南拜奏。
南無道塲敎主本師釋迦牟尼文佛座下。
南無大慈大悲觀世音菩薩座下。
南無啟敎阿難陀尊者座下。
筵奉、三乘聖哲、十殿慈王、歷代祖師、一切善神、同垂証鑒。
伏願、三寶證明、萬靈印可、俾六道四生之微命、枯木逢春、使九玄七祖之爽靈、同登覺地、有生有識、共證菩提、無數無邊、倶蒙解脫。謹疏。
Phiên âm:
CHUNG THẤT CHẨN TẾ SỚ
Phục dĩ:
Thắng hội hoằng khai, Thế Tôn xuất hiện; Hàn Lâm1 kí thiết, trệ phách2 lai y; tháo dục thân căn,3thừa ân thọ giới; hưởng Tô Đà4 chi diệu thực, các bão cơ hư; thính Hoa Nghiêm chi bí văn, tảo siêu Giác Địa.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … tự phụng Phật thiết cúng Chẩn Tế Cô Hồn kỳ phước sự. Kim trai chủ … đồng trai quyến đẳng,
chuyên vị Bổn Sư Hòa Thượng, lạc vãng Tịnh Bang; Trai Tuần phước sự dĩ châu viên, khải kiến Mông Sơn5 chi pháp thí;6 duy nhật hương nhiên Ngũ Phận, tăng trượng Lục Hòa; ngưỡng can Đại Giác chi tôn, phủ tế U Minh7 chi lộ; phổ vị pháp giới Tam Thập Lục Bộ, hà sa nam nữ cô hồn đẳng chúng.
Ngôn niệm:
Pháp giới hữu tình, đại khai tân tế; quyến bỉ u hồn, tích kiếp cô lộ; cửu trầm trường dạ, nan đắc siêu thăng; hàm trượng lương nhân, hạnh mông tế độ. Tư giả đạo tràng hoàn mãn, Chẩn Tế Cô Hồn; cẩn cụ sớ chương, hòa nam bái tấu:
Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật tòa hạ.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát tòa hạ.
Nam Mô Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả tòa hạ.
Diên phụng: Tam Thừa Thánh triết, Thập Điện Từ Vương, Lịch Đại Tổ Sư, nhất thiết thiện thần, đồng thùy chứng giám.
Phục nguyện: Tam Bảo chứng minh, vạn linh ấn khả; tỷ Lục Đạo Tứ Sanh chi vi mạng, khô mộc phùng xuân; sử Cửu Huyền Thất Tổ chi sảng linh, đồng đăng Giác Địa; hữu sanh hữu thức, cọng chứng Bồ Đề; vô số vô biên, câu mông giải thoát. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG CHẨN TẾ DỊP CHUNG THẤT
Cúi nghĩ:
- Hội rộng bày, Thế Tôn xuất hiện; Hàn Lâm đã mở, cô hồn đến nương; rửa sạch thân căn, nhờ ơn thọ giới; hưởng Tô Đà món mầu nhiệm, thảy đều đủ no; nghe Hoa Nghiêm ấy huyền văn, sớm lên Cõi Giác.
Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, thờ Phật, dâng cúng Chẩn Tế Cô Hồn cầu phước. Nay Pháp tử … cùng trai quyến … trộm vì Bổn Sư Hòa Thượng, sanh vãng Tịnh Bang; Trai Tuần việc phước đã chu toàn, kiến lập Mông Sơn ấy pháp thí; hôm nay hương xông Năm Món, tăng nương Sáu Hòa; ngưỡng trông Đại Giác chí tôn, cúi giúp U Minh nẻo khổ; khắp vì pháp giới Ba Mươi Sáu Bộ, hà sa nam nữ cô hồn các chúng.
Nép nghĩ: Pháp giới hữu tình, rộng mở độ khắp; khiến các u hồn, đường xa vạn kiếp; mê dài đêm tối, khó được siêu thăng; đều nương nhân lành, may mong cứu độ. Nay lúc đạo tràng hoàn mãn, Chẩn Tế Cô Hồn; kính đủ sớ chương, kính thành thưa lạy:
Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, giáo chủ Đạo Tràng, chứng minh.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Từ Đại Bi, chứng minh.
Kính lạy Tôn Giả A Nan Đà, khai mở giáo pháp, chứng minh.
Cùng xin: Ba Thừa các Thánh, Mười Điện Minh Vương; các đời Tổ sư, hết thảy thiện thần, cùng thương chứng giám.
Cúi mong: Tam Bảo chứng minh, vạn linh hứa khả; khiến Sáu Nẻo Bốn Loài bao mạng nhỏ, cây khô gặp xuân; giúp Cửu Huyền Thất Tổ tiên linh, cùng lên Cõi Giác; có (mạng) sống có (ý) thức, cùng chứng Bồ Đề; vô số vô biên, đều được giải thoát. Kính dâng sớ.
Chú thích:
- Hàn Lâm (s: Śītavana, p: Sītavana, 寒林): căn cứ vào Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, Taishō Vol. 54, No. 2128) quyển 7 của cao tăng Thích Huyền Ứng (釋玄應, ?-?) nhà Đường giải thích rằng: “Thi Đà Lâm, chánh ngôn Thi Đa Bà Na, thử danh Hàn Lâm; kỳ lâm u thúy nhi hàn, nhân dĩ danh dã, tại Vương Xá Thành trắc, tử nhân đa tống kỳ trung, kim tổng chỉ khí thi chi xứ danh Thi Đà Lâm giả, thủ bỉ danh chi dã (屍陀林、正言屍多婆那、此名寒林、其林幽邃而寒、因以名也、在王舍城側、死人多送其中、今總指棄屍之處名屍陀林者、取彼名之也, Thi Đà Lâm, gọi cho đúng là Thi Đa Bà Na, ở đây [Trung Quốc] gọi là Hàn Lâm; khu rừng nầy thâm u mà lạnh lẽo, nên có tên như vậy, nằm một bên thành Vương Xá; phần lớn người chết đều được tống vào trong rừng nầy; nay chỉ chung cho những nơi vất bỏ thi thể người chết là Thi Đà Lâm, lấy đó làm tên gọi).” Trong Hoằng Tán Pháp Hoa Truyện (弘贊法華傳, Taishō Vol. 51, No. 2067) quyển 1, phần Tống Thích Tăng Bao Tác Phổ Hiền Trai (宋釋僧苞作普賢齋), cũng cho biết thêm rằng: “Hàn Lâm giả, khí thi chi sở, tục xưng bất tường chi địa (寒林者、棄尸之所、俗謂不祥之地, Hàn Lâm là nơi bỏ xác chết, thế gian gọi là khu đất không tốt).” Như vậy, Thi Đa Bà Na (尸多婆那), Thi Đà Lâm (屍陀林、尸陀林), là âm dịch của Hàn Lâm, khu mộ địa nằm gần Vương Xá Thành (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城), là khu rừng vứt bỏ xác người chết cho cầm thú ăn. Người vào khu rừng nầy cảm thấy rùng rợn, lạnh lùng, sợ hãi, nên được gọi là Hàn Lâm (khu rừng lạnh lẽo). Từ đó, nó được gọi là nghĩa trang, khu mộ địa. Cho nên Hàn Lâm ở đây có nghĩa là khu rừng lạnh lẽo với những xác người chết, vì vậy các hồn phách vất vưởng mới đến nương tựa. Trong bài Phụng Hòa Tập Mỹ Thương Sử Củng Sơn Nhân (奉和襲美傷史拱山人) của Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-khoảng 876) nhà Đường có câu: “Tằng thuyết sơn thê dục khứ tầm, khởi tri sương cốt táng Hàn Lâm (曾說山棲欲去尋、豈知霜骨葬寒林, từng sống rừng sâu muốn đi tìm, nào hay sương cốt chôn Hàn Lâm).” Hay trong bài Dữ Lý Sanh Luận Thi Thư (與李生論詩書) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường cũng có câu: “Đào nạn nhân đa phần khích địa, phóng sanh lộc đại xuất Hàn Lâm (逃難人多分隙地、放生鹿大出寒林, trốn nạn người đa phần chun đất, phóng sanh nai thường ra Hàn Lâm).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, phần Sơn Cư (山居), lại có câu: “Mang hài đạp phá Hàn Lâm sắc, biến địa phân phương xuyết lạc mai (芒鞋踏破寒林色、遍地芬芳綴落梅, cỏ hài đạp màu Hàn Lâm nát, khắp đất thơm lừng mai rụng rơi).”
- Trệ phách (滞魄): xưa kia chỉ cho những hồn phách sống lang thang không nơi nương tựa. Như trong Thái Thượng Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh (太上無極總眞文昌大洞仙經) quyển 1 có đoạn: “Hoặc hữu trầm hồn trệ phách, bất đắc vãng sanh giả, thác mộng phụ hình lai cầu (或有沉魂滞魄、不得徃生者、託夢附形來求, hoặc có trầm hồn trệ phách, không được vãng sanh, báo mộng hiện hình đến cầu xin).” Hay trong Cát Tiên Công Truyện (葛仙公傳) của Lịch Thế Chơn Tiên Thể Đạo Thông Giám (歷世眞仙體道通鑒) quyển 23 có ghi rằng: “Tam Quốc tranh lạo hung hoang, binh thương biểu tử, cùng hồn trệ phách, trầm luân ác thú, nan xuất luân hồi (三國爭潦凶荒、兵傷殍死、窮魂滞魄、沉淪惡趣、難出輪廻, Tam Quốc tranh giành, mưa lụt hung dữ làm tan hoang, binh lính bị thương chết đói, hồn cùng đường, phách lang thang, trôi lăn trong đường ác, khó ra khỏi vòng luân hồi).” Trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Hạ, Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ, có thâu lục bài văn thỉnh 12 loại cô hồn thường được dùng trong nghi thức Chẩn Tế Cô Hồn của Phật Giáo, tương truyền do thi hào Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) soạn, câu thỉnh thứ 7 cũng có đề cập đến loại trệ phách nầy: “Nhất tâm triệu thỉnh: Giang hồ cơ lữ, nam bắc kinh thương, đồ tài vạn lí du hành, tích hóa thiên kim mậu dịch; phong sương bất trắc, thân cao ngư phục chi trung, đồ lộ nan phòng, mạng táng dương trường chi hiểm; ô hô, trệ phách bắc tùy vân ám ám, khách hồn đông trục thủy du du; như thị tha hương khách lữ chi lưu, nhất loại cô hồn đẳng chúng (一心召請、江湖羈旅、南北經商、圖財萬里遊行、積貨千金貿易、風霜不測、身膏魚腹之中、途路難防、命喪羊腸之險、嗚呼、滯魄北隨雲黯黯、客魂東逐水悠悠、如是他鄉客旅之流、一類孤魂等眾, Một lòng triệu thỉnh: Sông hồ hành lữ, nam bắc bán buôn, cầu tài vạn dặm du hành, tích của ngàn vàng mậu dịch; gió sương bất trắc, thân vào bụng cá ở trong, đường sá khó phòng, mạng táng ruột dê nạn hiểm; than ôi, trệ phách Bắc theo mây u ám, khách hồn Đông chảy nước lững lờ; như vậy tha hương khách lữ hạng người, một loại cô hồn các chúng).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng KinhVol. 65, No. 1277) quyển 7, phần Chư Ban Phật Sự Môn (諸般佛事門), Thiết Hộc Văn (設斛文), lại có đoạn: “Huống nãi phù sanh lục lục, âm giới mang mang, cô hồn trệ phách nhi tuyệt tự phả đa, y thảo phụ mộc nhi thương vong bất thiểu, tại thế thượng bất tu thiện quả, xử sanh tiền duy tạo ác nhân (況乃浮生碌碌、陰界茫茫、狐魂滯魄而絕祀頗多、依草附木而傷亡不少、在世上不修善果、處生前惟造惡因, huống chi phù sinh bận rộn, âm cõi mênh mang, hồn đơn phách trệ chẳng thờ phụng quá nhiều, bám cây nương cỏ mà thương vong chẳng ít, ở trên đời chẳng tu quả thiện, lúc sanh tiền chỉ tạo ác nhân).”
- Thân Căn (s, p: kāyendriya, 身根): một trong 5 căn, 6 căn, 12 xứ, 18 giới, 22 căn; gọi tắt là thân (身); tức chỉ cho tịnh sắc căn trong thân thể, chứ không phải căn phù trần của nhục thể. Về ngữ nghĩa của thân, theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 3 lấy Phạn ngữ kāya (âm dịch là Ca Da [迦耶]) với nghĩ là tích tập (積集, gom chứa, tập trung), y chỉ (依止, nương vào, dừng lại). Thân Căn là nơi nhiều pháp của các căn y chỉ, nhiều pháp đều tích tập nơi Thân Căn nầy, nên có tên là Ca Da. Trong 12 Xứ, Thân Căn nầy có tên là Thân Xứ (s: kāyāyatana, 身處); trong 18 Giới là Thân Giới (s: kāya-dhātu, 身界). Thông thường, cái gọi là thân, đều chỉ chung cả đống thịt, hoàn toàn khác với Thân Căn. Trong các luận thư, gân thịt, v.v., gọi là Phù Trần Căn (扶塵根); còn đối với Thân Căn vốn có thể xúc tác thì gọi là Thắng Nghĩa Căn (勝義根). Thân Căn chỉ tồn tại trong Dục Giới (s: kāma-dhātu, 欲界) và Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), còn trong Vô Sắc Giới (s: ārūpa-dhātu, 無色界) thì không. A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, TaishōVol. 27, No. 1545) quyển 90 cho rằng Thân Căn của Địa Ngục không giống như của con người. Như trong Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi (法華三昧懺儀, Taishō Vol. 46, No. 1941), phần Sám Hối Thân Căn Pháp (懺悔身根法), có đoạn: “Quy hướng Phổ Hiền Bồ Tát cập nhất thiết Thế Tôn thiêu hương tán hoa, thuyết thân quá tội bất cảm phú tàng, dĩ thị nhân duyên linh ngã dữ pháp giới chúng sanh, Thân Căn nhất thiết trọng tội tất cánh thanh tịnh (歸向普賢菩薩及一切世尊燒香散華、說身過罪不敢覆藏、以是因緣令我與法界眾生、身根一切重罪畢竟清淨, quy hướng về Bồ Tát Phổ Hiền và hết thảy Thế Tôn đốt hương rãi hoa, bày rõ tội sai lầm của thân không dám che giấu, lấy nhân duyên nầy khiến con cùng với chúng sanh trong pháp giới, hết thảy tội nặng của Thân Căn cuối cùng được trong sạch).”
- Tô Đà (s, p: sudhā, 酥酡): âm dịch là Tô Đà (蘇陀) hay Tu Đà (須陀), ý dịch là thức ăn Cam Lộ của trời, là loại thức ăn có vị ngon được lưu truyền ở Ấn Độ, món ăn trên trời được chế ra từ chất dịch của một loại cây. Cho nên thường có từ Tô Đà Vị (蘇陀味, mùi vị Tô Đà), Tu Đà Phạn (須陀飯, cơm Tu Đà). Trong Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義, tức Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa [一切經音義, Taishō Vol. 54, No. 2128]) quyển 3 giải thích rằng: “Tô Đà vị, cựu kinh trung tác Tu Đà phạn, thử thiên Cam Lộ thực (蘇陀味、舊經中作須陀飯、此天甘露飯, mùi vị Tô Đà, trong kinh xưa cho là cơm Tu Đà, đây chính là thức ăn Cam Lộ của trời).” Ngoài ra, trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3 lại có câu: “Sái phi phi chi pháp vũ, phiến tạp tạp chi từ phong, quảng khai hương tích chi trù, phổ hiến Tô Đà chi soạn (洒霏霏之法雨、扇颯颯之慈風、廣開香積之廚、普獻酥酡之饌, rưới lả chả dòng mưa pháp, thổi vi vu gió từ bi, rộng mở nhà bếp Hương Tích, dâng khắp món ăn Tô Đà).” Hay như trong Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) của Phạn Kỳ Sở Thạch (梵琦楚石, 1296-1370) nhà Nguyên, cũng có đoạn thơ nhắc đến hương vị Tô Đà trên cõi Tịnh Độ là: “Tô Đà tự chú lưu ly oản, Cam Lộ trường ngưng phỉ thúy bàn, bất tợ Tuyết Sơn đa dược vị, chúng sanh vô phước biến thành toan (酥酡自注琉璃盌、甘露長凝翡翠盤、不似雪山多藥味、眾生無福變成酸, Tô Đà tự rót chén lưu ly, Cam Lộ đọng lâu bàn phỉ thúy, chẳng giống Tuyết Sơn nhiều vị thuốc, chúng sanh vô phước biến thành chua).” Hoặc trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 4 lại có đoạn: “Nhiên quang minh trí tuệ chi đăng, phụng Thiền duyệt Tô Đà chi vị, diệu hoa tề phóng, chơn quả thường viên (然光明智慧之燈、奉禪悅酥酡之味、妙華齊放、眞果常圓, đốt quang minh ngọn đèn trí tuệ, cúng Thiền duyệt hương vị Tô Đà, hoa mầu cùng thả, chơn quả thường tròn).”
- Mông Sơn (蒙山): tên gọi của một ngọn núi hiện nằm tại huyện Danh Sơn (名山縣), tỉnh Tứ Xuyên (四川省), Trung Quốc. Dưới thời nhà Tống có vị tăng người Thiên Trúc (Ấn Độ) tên Bất Động Thượng Sư (不動上師), người đời thường gọi là Cam Lộ Đại Sư (甘露大師) hay Kim Cang Thượng Sư (金剛上師), tinh thông các học vấn của Hiển Giáo cũng như như Mật Giáo, đầu tiên đến nước Tây Hạ (西夏, Tangut), dừng chân trú tại Hộ Quốc Tự (護國寺), chuyên dịch các kinh điển Mật Giáo. Sau ông chuyển đến Mông Sơn nầy, dịch lại bản Du Già Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽施食儀軌) của Kim Cang Trí (金剛智), lấy tên là Du Già Diệm Khẩu (瑜伽焰口), hay còn gọi là Tiểu Thí Thực Pháp (小施食法), Cam Lộ Pháp (甘露法), hay Mông Sơn Thí Thực Pháp (蒙山施食法). Đây là nghi thức tụng niệm và hành trì không thể thiếu được trong nhà Phật. Đến thời Cận Đại nầy có Hưng Từ Đại Sư (興慈大師) chủ xướng pháp môn Mông Sơn Thí Thực, thêm vào 6 loại khai thị, nên có tên gọi là Đại Mông Sơn Thí Thực. Ảnh hưởng tinh thần đó, sau nầy Mông Sơn Đức Dị (蒙山德異, 1231-?), vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc sống dưới thời nhà Minh, có viết cuốn Mông Sơn Hòa Thượng Lục Đạo Phổ Thuyết (蒙山和尚六道普說).
- Pháp thí (s: dharma-deśanā, p: dhamma-desanā, 法施): bố thí pháp, là một trong 2 hay 3 hình thức bố thí; tức tuyên thuyết giáo pháp, làm lợi ích chúng sanh; còn gọi là pháp cúng dường (法供養), thuyết giáo (說敎), thuyết pháp (說法), thuyết kinh (說經), đàm nghĩa (談義), khuyến hóa (勸化). Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) quyển Thượng giải thích rằng: “Khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng, chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí, thường dĩ pháp âm giác chư thế gian (扣法鼓、吹法螺、執法劍、建法幢、震法雷、曜法電、澍法雨、演法施、常以法音覺諸世間, đánh trống pháp, thổi ốc pháp, cầm kiếm pháp, lập cờ pháp, chấn sấm pháp, rực điện pháp, rưới mưa pháp, diễn pháp thí, thường lấy âm pháp để tỉnh thức các thế gian).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 5 lại có đoạn: “Kim tắc đặc khai thắng hội, phổ độ mê lưu, nguyện nhân Phật nhật chi quang, lai phó đàn gia chi cúng, thân thừa pháp thí, hoát ngộ Tánh Không (今則特開勝會、普度迷流、願因佛日之光、來赴檀家之供、親承法施、豁悟性空, nay tất khai mở thắng hội, độ kẻ tầm mê, nguyện nhờ trời Phật hào quang, đến dự thí chủ dâng cúng, nương vào pháp thí, chợt ngộ Tánh Không).”
- U minh (幽冥): tối tăm, u ám; do đó từ nầy dược dùng để chỉ cho cõi Địa Phủ (地府), Địa Ngục (地獄), nơi tối tăm, u ám. Đạo Giáo cho rằng người quản chưởng thế giới U Minh là Phong Đô Đại Đế (酆都大帝). Theo Phật Giáo, Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) được xem như là giáo chủ cõi U Minh, là người thệ nguyện vào cõi Địa Ngục để cứu dộ chúng sanh như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō Vol. 13, No. 412) có dạy rằng: “Địa Ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề (地獄未空誓不成佛,眾生度盡方證菩提, Địa Ngục chưa hết thề không thành Phật, chúng sanh độ tận mới chứng Bồ Đề).” Trong Thiền môn, thỉnh chuông buổi khuya, sáng sớm được gọi là “Thỉnh Chuông U Minh”, nghĩa là thỉnh chuông để cho các chúng sanh trong cõi tối tăm của Địa Ngục được nghe tiếng chuông mà xa lìa khổ đau, chứng quả giải thoát, như trong bài kệ nguyện chuông có dạy rằng: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất diêu văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành chánh giác (願此鐘聲超法界、鐵圍幽闇悉遙聞、聞塵清淨證圓通、一切眾生成正覺, nguyện tiếng chuông nầy vang pháp giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe, phiền não trong sạch chứng viên thông, hết thảy chúng sanh thành chánh giác)”, và “Văn chung thanh, phiền não khinh, trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh, ly Địa Ngục, xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh (聞鐘聲、煩惱輕、智慧長、菩提生、離地獄、出火坑、願成佛、度眾生, nghe tiếng chuông, phiền não buông, trí huệ lớn, Bồ Đề sanh, rời Địa Ngục, thoát lửa than, nguyện thành Phật, độ chúng sanh).”